Posts Tagged ‘doanh nghiệp’

Đổi đối tác kinh doanh: 5 điều cần cân nhắc

Written by i-Office.com.vn. Posted in Chìa Khóa Thành Công

(i-office.com.vn)  Hầu hết doanh nhân cần người đồng hành cùng chia sẻ gánh nặng một cách hiệu quả. Nhưng rồi sau nhiều tuần, nhiều tháng cộng tác, bạn quay đầu nhìn lại thì thấy đối tác đang ngồi trên cỗ xe chỉ có một mình bạn hì hục kéo. Đối tác vô trách nhiệm hay đang cần nghỉ ngơi chút ít?

Tình huống như vậy xảy ra thường xuyên: bên này nghĩ bên kia không đóng góp gì; nhưng bên kia không thấy thế. Cách xử lý tình huống sẽ dẫn dắt quan hệ đối tác kinh doanh… Theo lời doanh nhân kiêm nhà huấn luyện kinh doanh Craig Jennings thì: “Điều đáng sợ nhất là quan hệ đối tác không hiệu quả, khiến việc kinh doanh ngừng và tất cả mọi người không làm việc chỉ để cãi vã”.

Có 5 dấu hiệu rõ ràng của mối quan hệ hợp tác kinh doanh đang ở bên bờ vực thẳm. Nếu những vấn đề này không được giải quyết, có thể bạn sẽ muốn tìm một đối tác kinh doanh mới hoặc thậm chí một cỗ xe mới.

1. Không thẳng thắn đối thoại khi xảy ra vấn đề

Đối thoại là hòn đá nền tảng của bất cứ cuộc hôn nhân hạnh phúc nào. Và cũng tương tự như vậy, mọi hoạt động kinh doanh đều có khó khăn, trắc trở cần được vượt qua bằng cách thẳng thắn đối thoại ngay từ giai đoạn đầu. Nên sớm giải quyết các trục trặc nhỏ nhất để bảo đảm thành công của sự hợp tác.

B.J. và Jennifer Kocen là cặp bài trùng hợp tác điều hành Viện bảo tàng nghệ thuật Glave Kocen Art Gallery. Bí quyết gắn kết lâu dài của họ là luôn quan tâm đến nhau và đặt thẳng thắn đối thoại làm ưu tiên hàng đầu. Chỉ cần một người hơi nhướng lông mày không vừa ý là người kia hỏi ngay: “Có chuyện gì không?”.

“Điều kiện hợp tác kinh doanh thành công là chúng tôi xây dựng nền tảng quan hệ vững chắc để khi có mâu thuẫn thì không “ngâm” nó thành khủng hoảng mà thẳng thắn đương đầu để sớm tìm ra giải pháp”, B.J. chia sẻ chi tiết hơn.

Trong một số tình huống thì người trong cuộc không thể tự tìm ra giải pháp. Những lúc như vậy, rất cần bên thứ ba, có thể là nhà tư vấn, lắng nghe và đưa ra lời khuyên khách quan… Ngay cả những cặp đôi hạnh phúc nhất cũng có lúc tìm đến bạn bè để chia sẻ khi mâu thuẫn phát sinh.

2. Không tin tưởng nhau khi đưa ra quyết định

Hai hoặc nhiều người gắn kết quan hệ hợp tác kinh doanh sẽ có khả năng đưa ra quyết định tốt hơn một nhà lãnh đạo độc nhất. Tuy nhiên, không có cách thức hoặc hệ thống đưa ra quyết định nào được khẳng định là hoàn hảo. Vấn đề là “Mỗi công ty phải quyết định cách thức mình đưa ra quyết định”, để từng người trong liên minh đều tán thành quyết định cuối cùng, như lời Jennings.

Một số doanh nghiệp chọn cách cùng nhau bàn bạc trước khi đưa ra mọi quyết định. Nhưng theo doanh nhân kiêm nhà tư vấn doanh nghiệp, nhà môi giới doanh nghiệp đã tạo lập thành công trong kinh doanh và bán 11 doanh nghiệp mạo hiểm Ira Rashap thì họ thuộc tuýp doanh nhân “cứ thích nắm quyền kiểm soát tuyệt đối”, dễ làm làm chậm và nhàm chán tiến trình hoạt động.

Ngược lại với cách đó, một số doanh nhân tin tưởng đối phương sẽ đưa ra quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp. Cụ thể hơn, “Nếu tôi và anh là đối tác, và anh có khả năng xử lý một lĩnh vực nhất định, thì tôi có niềm tin rằng anh sẽ đưa ra quyết định đúng đắn dựa trên lợi ích tốt nhất cho doanh nghiệp của chúng ta… Trong quan hệ hợp tác, việc đưa ra quyết định cần được chia nhau ra, cho người có chuyên môn hơn trong phần việc đó”, Rashap giải thích.

Jennifer và B.J cũng làm như vậy: “Chúng tôi cùng bàn bạc để đưa ra những quyết định trọng đại. Nhưng chúng tôi phân chia những phần việc và trách nhiệm khác nhau để tự đưa ra quyết định nhanh chóng khi cần”.

đổi đối tác kinh doanh-5 điều cân nhắc

 3. Đối tác không cùng quan điểm kinh doanh 

Ngay từ giai đoạn đầu của việc hợp tác kinh doanh , mọi người cần ngồi lại với nhau để chia sẻ tầm nhìn, hy vọng, kế hoạch tương lai của công ty. Nếu chưa thống nhất những chi tiết đó thì quan hệ các bên và sự tăng trưởng của doanh nghiệp sẽ phải trả giá đắt.

Jennifer Kocen cho biết: “Nên có một buổi thảo luận chân thành với đối tác kinh doanh về những gì các bạn cùng mong muốn. Đó là cách tốt nhất để dự đoán tương lai doanh nghiệp… Có khi bạn muốn cùng hợp tác 5 năm nhưng đối tác lại muốn 10 năm… Có nhiều vấn đề nhỏ mà các bạn cần chỉ ra để cùng bàn bạc, bởi vì điều bạn muốn không hẳn cũng là điều đối tác muốn”.

B.J và Jennifer đã cùng bàn bạc cách thức gắn kết lâu dài với nhau. Cả hai thống nhất là không để bất cứ gì trong cuộc sống cá nhân ảnh hưởng đến công việc.

Jennings nhấn mạnh thêm: “Trong giai đoạn đầu ngây ngất hạnh phúc với quan hệ đối tác vừa thành lập, cả hai đều không muốn nghĩ đến mâu thuẫn, bất đồng, càng không quan tâm đến cách thức giải quyết chúng. Nhưng chỉ một năm sau thì họ sẽ thấm thía những điều tưởng chừng rất nhảm nhí và xa vời đó quan trọng đến nhường nào”.

Nếu không vạch ra tiến trình hướng dẫn nhau cùng vượt qua các rào cản, thì mỗi bên sẽ dễ đi trệch nhau, cách xa về tư tưởng, phương hướng khắc phục khó khăn, kế hoạch kinh doanh trong tương lai. Nếu cứ tiếp tục như thế thì sớm hay muộn doanh nghiệp cũng sụp đổ.

 4. Cái tôi quá lớn

Ở giai đoạn đầu của sự liên kết thành lập doanh nghiệp, mọi việc có vẻ rất lý tưởng. Tất cả cùng thống nhất chúng ta sẽ làm cái này, làm cái kia, thực hiện ý tưởng, mục tiêu, kế hoạch nọ… Nhưng càng đi với nhau thì bạn càng phải bảo đảm rằng từ “hợp tác” được các bên hiểu và thực hành đúng nghĩa của nó.

Vấn đề sẽ phát sinh khi một trong hai, hoặc cả hai, muốn nắm quyền kiểm soát trội hơn người kia. Và điều đó hoàn toàn không thể tồn tại, bởi vì trong quan hệ hợp tác, cả hai phải có quyền hạn tương tự, nếu không phải nói là công bằng.

Theo Jennifer, “Có nhiều người hỏi một trong hai chúng tôi ai là người nắm quyền cao nhất. Và chúng tôi đều trả lời rằng người nắm quyền cao nhất thay đổi tùy theo quyết định cần đưa ra thuộc lĩnh vực nào… Mỗi chúng tôi không bao giờ có ý nghĩ giành làm người quan trọng hơn. Khi hợp tác làm ăn thì cái tôi cá nhân cần được dẹp sang một bên”.

Cái tôi cá nhân là sự xao lãng không cần thiết khi thành lập doanh nghiệp. Và trong quan hệ đối tác thì điều đó hoàn toàn không thể chấp nhận được.

“Mỗi người đều phải sẵn lòng từ bỏ cái tôi của mình. Các bạn phải cùng nhau trả lời những câu hỏi như: Để tên ai trước? Theo thứ tự chữ cái Alphabe? Còn về chức danh thì sao? Ai là CEO? Ai là Giám đốc? Trong quan hệ đối tác cùng lập nghiệp, chẳng ai muốn là Phó giám đốc. Thông thường, chúng ta mất 2 năm để cùng vượt qua những thử thách đó”, Brooks cho biết.

5. Thiếu phân công vai trò rõ ràng

Có thể bạn làm tất cả mọi việc. Có thể bạn chẳng làm gì cả. Trong mối quan hệ hợp tác làm ăn, mỗi người đều phải cảm thấy sự công bằng, nên các chuyên gia gợi ý rằng bạn nên hợp tác với người có cùng khao khát và mục tiêu, nhưng bổ sung cho nhau về kỹ năng và vai trò.

Như Rashap thì là: “Tôi có chuyên môn riêng, bạn có chuyên môn riêng, và mỗi chúng ta đưa ra quyết định có liên quan đến chuyên môn của mình…

Ban đầu, chúng tôi hỗn loạn với những toan tính rằng sẽ gọi nhau là gì… Nhà đồng sáng lập, nhà đồng sử hữu… Nhưng sau 2 năm thì chúng tôi dần phân định rõ tài năng và sức mạnh của mình: tôi chuyên về bán hàng và marketing, còn Tonilee lo việc điều hành”.

Xác định chức danh đã là khó khăn; còn nếu không phân định rõ vai trò thì càng khiến mỗi người dễ hiềm khích, ghen tức, có cảm nhận xấu về phía đối phương.

“Cũng có trường hợp người làm ít cảm thấy tồi tệ với chính bản thân mình. Thế nên, thay vì tìm cách để phát triển tập thể, người đó cứ chìm đắm trong suy nghĩ tội lỗi về những thiếu sót của bản thân… Chúng tôi thấy nhiều đối tác kinh doanh, cả đàn ông lẫn phụ nữ, không thể gắn kết quan hệ lâu dài chỉ vì bị phân tán bởi những suy nghĩ mông lung như vậy”, Adamson kết lại.

Tham khảo thêm các bài viết về kinh doanh tại đây.

 Theo: doanhnhansaigon

 

Xây dựng chiến lược: 3 mô hình chủ đạo

Written by i-Office.com.vn. Posted in Chiến Lược

(i-office.com.vn) Xây dựng chiến lược:  Rất khó đạt được một định nghĩa thống nhất về chiến lược bởi 2 lý do cơ bản

1. Chiến lược bao gồm nhiều góc cạnh khác nhau

2. Chiến lược có tính cá thể, nó thay đổi theo hoàn cảnh của mỗi doanh nghiệp, trong từng ngành cụ thể.

Ba mô hình chiến lược  trình bày được phân loại dựa trên điểm tập trung chủ đạo của từng mô hình chiến lược.

 1. Mô hình chiến lược tuyến tính

Mô hình tuyến tình tập trung vào hoạt động lập kế hoạch. Mô hình được gọi là tuyến tính vì nó bao hàm các hoạt động có trình tự, được định hướng, và tuân theo trật tự lô-gíc trong quá trình lập kế hoạch.

Theo quan điểm tuyến tính, chiến lược gồm: tích hợp các quyết đinh, hành động hoặc kế hoạch đặt ra và hướng tới các mục tiêu của tổ chức. Cả mục tiêu và cách thức đạt tới mục tiêu đều là kết quả của quyết định chiến lược.  Để đạt được mục tiêu, tổ chức có thể thay đổi liên kết của mình với môi trường xung quanh như thay đôi sản phẩm, chuyển dịch thị trường, hay thực hiện các hành vi kinh doanh khác. Các thuật ngữ thường đi liền với mô hình tuyến tính có: lập kế hoạch chiến lược, thiết lập hệ thống chiến lược, và thực hiện chiến lược.

Mô hình tuyến tính mô tả các nhà quản trị cấp cao như những người có khả năng thay đổi tổ chức. Môi trường xung quanh là tập hợp các khó khăn do các đối thủ cạnh tranh tạo ra. Qua một quá trình ra quyết định hợp lý, nhà quản trị cấp cao xác định mục tiêu, xây dựng các phương án thay thế để đạt được mục tiêu, đánh giá khả năng thành công của mỗi phương án, và quyết định phương án thực hiện. Trong quá trình này, nhà quản lý tận dụng các xu thế và điều kiện trong tương lai có lợi cho hoạt động kinh doanh và tránh hoặc có biện pháp phản ứng lại các điều kiện bất lợi. Do mô hình được phát triển cho các tổ chức kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, hai kết quả quan trọng được xem xét tới là lợi nhuận và năng suất.

Nếu mục tiêu của quá trình lập kế hoạch là thành công của doanh nghiệp, thì cần đảm bảo mọi quyết định của người quản lý từ cấp cao nhất sẽ được thực hiện đầy đủ trong toàn tổ chức. Giả định này cho phép các ý tưởng dự kiến trở thành hành động thực tế. Giả định thứ hai của mô hình bắt nguồn từ đặc tính tốn thời gian và định hướng tương lai của quá trình lập kế hoạch. Nói cách khác, quyết định của ngày hôm nay được đưa ra dựa trên niềm tin vào các điều kiện trong tương lai. Các quyết định có thể chỉ được thực hiện sau một vài tháng, thậm chí, vài năm. Để có thể tin tưởng rằng thời gian dành cho việc đưa ra quyết định không lãng phí, cần có niềm tin rằng biến động môi trường kinh doanh là có thể dự báo. Một giả định nữa là mỗi tổ chức đều xác định cho mình một số mục tiêu và hoàn thành các mục tiêu này là kết quả quan trọng nhất của chiến lược.

Mô hình tuyến tính có các đặc trưng:

–  Phạm vi: xác định rõ mục tiêu dài hạn cơ bản của doanh nghiệp, điều chỉnh các hành động và phân bố nguồn lực cần thiết nhằm đạt tới các mục tiêu này.

–  Bản chất của chiến lược: tích hợp các quyết định, hành động, và kết hoạch.

– Trọng tâm của chiến lược: phương tiện, kết quả.

– Mục tiêu của chiến lược: đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.

– Hành vi chiến lược: thay đổi sản phẩm, thị trường.

– Thuật ngữ liên quan: lập kế hoạch chiến lược, xây dựng và thực hiện chiến lược.

–  Tiêu chí đánh giá: kế hoạch chính thức, sản phẩm mới, cấu trúc sản phẩm hoặc phương thức kinh doanh, trọng tâm và phân đoạn thị trường, thị phần, sát nhập và thâu tóm, đa dạng sản phẩm.

Mô hình tuyến tính ngày càng ít được sử dụng do các vấn đề chiến lược ngày càng trở nên phức tạp không chỉ bởi các vấn đề này liên quan đến nhiều góc độ quản lý khác nhau mà còn bởi biến động của các biến số kỹ thuật, kinh tế, thông tin, xã hội v.v…

xây dựng chiến lược-3 mô hình chủ đạo

2. Mô hình chiến lược thích ứng

Mô hình chiến lược thích ứng được đinh nghĩa là quan tâm tới phát triển khả năng có thể kết hợp giữa cơ hội và rủi ro của môi trường kinh doanh với nguồn lực cũng như khả năng của doanh nghiệp để khai thác các cơ hội đó.

Doanh nghiệp được dự báo sẽ tiếp tục đánh giá các điều kiện bên trong và bên ngoài. Kết quả đánh giá là những điều chỉnh phù hợp bên trong tổ chức hoặc trong các môi trường liên quan nhằm tạo ra sự kết hợp hợp lý giữa một bên là cơ hội và rủi ro của môi trường với bên kia là khả năng và nguồn lực của doanh nghiệp.

Mô hình thích nghi có một số điểm khác biệt so với mô hình tuyến tính:

– Một là, kiểm soát môi trường và tạo ra thay đổi là các chức năng đồng thời và liên tục của mô hình thích ứng. Độ trễ về thời gian, được ngầm định trong mô hình tuyến tính, không tồn tại trong mô hình này. Điều chỉnh chiến lược là chu trình lập đi lặp lại, ví dụ: giai đoạn lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, giai đoạn lựa chọn công nghệ, giai đoạn quản trị (qui trình và cấu trúc hợp lý, xác định khu vực cần tiếp tục phát triển và sáng tạo trong tương lai).

– Hai là, mô hình thích ứng không nhấn mạnh vào quyết định về mục tiêu của doanh nghiệp như mô hình tuyến tính. Thay vào đó, mô hình này có xu hướng tập trung sự chú ý của người quản lý vào cách thức/phương tiện đạt tới mục tiêu đó. Mục tiêu được thể hiện qua liên kết doanh nghiệp và môi trường kinh doanh.

– Ba là, định nghĩa về hành vi chiến lược trong mô hình thích ứng bao gồm không chỉ các hành vi được nêu ra trong mô hình tuyến tính (thay đổi thị trường, sản phẩm) mà còn có cả các biến đổi tinh tế về kiểu cách, marketing, chất lượng và các sắc thái khác.

– Bốn là, trong mô hình thích ứng chiến lược tập trung ít hơn vào đội ngũ quản lý cấp cao. Tuy nhiên, đội ngũ này vẫn chịu trách nhiệm tổng thể trong định hướng phát triển chiến lược.

– Năm là, môi trường kinh doanh trong mô hình thích ứng phức tạp hơn, bao gồm xu thế, sự kiện, đối thủ cạnh tranh và các đối tác quan trọng. Ngăn cách giữa doanh nghiệp và môi trường kinh doanh rất mong manh, và môi trường kinh doanh là trọng tâm chính trong xác định hành động của doanh nghiệp. Dù chủ động hay bị động, hành vi của doanh nghiệp cũng là phản ứng lại với bản chất và độ lớn của sức ép môi trường mà doanh nghiệp cảm nhận hay dự báo được.

Chiến lược thích ứng dựa trên một số giả thiết. Doanh nghiệp và môi trường có quan hệ chặt chẽ hơn so với mô hình tuyến tính. Môi trường năng động và khó dự báo hơn trong mô hình thích ứng. Môi trường kinh doanh gồm: đối thủ cạnh tranh, xu thế, và các đối tác liên quan (có vai trò ngày càng quan trọng). Nếu mô hình tuyến tính cho rằng doanh nghiệp phải đối đầu với môi trường kinh doanh thì mô hình thích ứng giả thiết rằng doanh nghiệp thay đổi theo môi trường kinh doanh.

Mô hình thích ứng có các đặc trưng:

–  Phạm vi: quan tâm tới phát triển khả năng kết hợp gữia cơ hội và rủi ro trong môi trường kinh doanh với khả năng và nguồn lực của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội kinh doanh.

– Bản chất của chiến lược: đạt tới sự kết hợp nhiều mặt giữa doanh nghiệp và môi trường.

– Trọng tâm của chiến lược: phương tiện.

– Mục tiêu của chiến lược: kết hợp với môi trường kinh doanh.

– Hành vi chiến lược: thay đổi kiểu cách, marketing, chất lượng.

– Tiêu chí đánh giá: giá, chính sách phân phối, chi tiêu cho marketing, sự khác biệt của sản phẩm, tính năng động, chấp nhận rủi ro, tích hợp, khả năng thích ứng, tính độc đáo…

– Thuật ngữ liên quan: quản trị chiến lược, lựa chọn chiến lược, khuynh hướng chiến lược, thiết kế chiến lược, điều chỉnh chiến lược, sức ép chiến lược, vị trí chiến lược.

Mô hình thích ứng đã sử dụng nhiều biến số và có khả năng thay đổi cao hơn mô hình tuyến tính. Tuy nhiên, nhiều ý kiến vẫn cho rằng thế giới kinh doanh thực còn phức tạp hơn rất nhiều.

3. Mô hình chiến lược diễn giải (interpretive strategy)

Các tham số của mô hình chiến lược diễn giải đến nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ. Tuy nhiên, mô hình này chủ yếu dựa trên các yếu tố quan hệ xã hội. Quan điểm quan hệ xã hội xem xét doanh nghiệp như một tổng thể các cam kết hợp tác giữa từng cá nhân với tinh thần tự nguyện. Sự tồn tại của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào khả năng thu hút đủ nhân sự với lợi ích phù hợp cho tất cả các bên.

Mô hình này cũng giả thiết rằng thực tế không phải cái gì đó khách quan hoặc ngoại sinh mà được hình thành thông qua một qui trình các tác động xã hội trong đó cảm nhận của mỗi người là chắc chắn, được điều chỉnh và thay thế tuỳ theo sự phù hợp với cảm nhận của những người khác.

Chiến lược trong mô hình diễn giải có thể được xác định như một phép ẩn dụ có định hướng hoặc khung hướng dẫn cho phép các tác nhân quan trọng của tổ chức có thể hiểu được tổ chức và môi trường xung quanh. Trên cơ sở này, các tác nhân quan trọng được khuyến khích tin tưởng và hành động theo hướng tạo ra các kết quả có lợi cho doanh nghiệp.

Khác với mô hình thích ứng, chiến lược diễn giải không thay đổi theo môi trường mà nhấn mạnh vào khả năng đối đầu với môi trường (giống như chiến lược tuyến tính). Tuy nhiên, có một khác biệt quan trọng. Nhà chiến lược tuyến tính đối phó với môi trường bằng các hành động của doanh nghiệp có xu hướng tác động đến các mối quan hệ; nhưng nhà chiến lược diễn giải đối phó với môi trường thông qua các hành động tượng trưng và giao tiếp.

Chiến lược diễn giải, giống như chiến lược thích ứng, giả định rằng doanh nghiệp và môi trường kinh doanh quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng trong chiến lược diễn giải, người lãnh đạo doanh nghiệp định hình quan điểm của các cá nhân trong doanh nghiệp và cả những người sắp liên quan tới doanh nghiệp cũng như sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, lãnh đạo doanh nghiệp không thực hiện các thay đổi vật lý với sản phẩm. Thay đổi về quan niệm hướng tới độ tin cậy lớn hơn dành cho doanh nghiệp hoặc sản phẩm của doanh nghiệp. Về điểm này, chiến lược diễn giải trùng lắp với chiến lược thích ứng.

Một khác biệt đáng chú ý giữa mô hình thích ứng và mô hình diễn giải là cách tiếp cận của mỗi mô hình về độ phức tạp. Chiến lược thích ứng nỗ lực giải quyết vấn đề phức tạp về mặt cấu trúc, đáng kể nhất là xung đột và thay đổi nhu cầu về sản phẩm của doanh nghiệp. Chiến lược diễn giải nhấn mạnh vấn đề phức tạp về mặt thái độ và nhận thức của các bên có liên quan tới doanh nghiệp.

Các nét chính của chiến lược diễn giải có:

– Phạm vi: một phép ẩn dụ được xây dựng với mục đích định hướng hoặc hướng dẫn thái độ và nhận thức của các tác nhân quan trọng với doanh nghiệp.

– Bản chất của chiến lược: ẩn dụ, diễn giải.

– Trọng tâm của chiến lược: nhân sự của doanh nghiệp và các bên có liên quan tới doanh nghiệp.

– Mục tiêu của chiến lược: tính hợp pháp và hợp lý trong từng hành động của doanh nghiệp.

– Hành vi chiến lược: phát triển biểu tượng, cải thiện quan hệ và tác động qua lại.

– Thuật ngữ liên quan: tiêu chuẩn chiến lược.

– Tiêu chí đánh giá: đánh giá theo bối cảnh cụ thể, có thể cần tới đánh giá định tính.

Tham khảo thêm các bài viết về chiến lược kinh doanh tại đây.

 Theo: saga

 

Xem Hình Ảnh i-OFFICE

Bài viết khác bạn có thể quân tâm...close